 |
VẠN KIẾP TÔNG BÍ TRUYỀN THƯ
Trong trận đánh Nguyên Mông lần thứ 3 năm 1288, có hai người “phạm lỗi” với Triều đ́nh nhà Trần, nhưng đều đă lập nên chiến công lớn, góp phần không nhỏ vào việc đuổi giặc Nguyên Mông. Đó là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, con nuôi của vua Trần Thánh Tông và Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, con trai thứ 3 của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.
Sách cũ kể rằng Trần Khánh Dư là người rất có tài, nhưng ăn nói th́ quá mạnh bạo mà sinh hoạt th́ hơi phóng túng, nên bị nhà Vua tước hết quan chức, bổng lộc và ông buộc phải về quê ở Chí Linh làm nghề bán than kiếm sống.
Nhưng cũng tại nơi đây, Trần Khánh Dư được phục chức và đă trở thành Phó tướng Vân Đồn. Ông đă chỉ huy quân ta phá tan đội thuyền tiếp tế lương thực của quân Nguyên Mông và góp công lớn vào trận chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng.
Vơ đă giỏi, văn cũng hay, sau này Trần Khánh Dư là người viết lời tựa cho cuốn “Vạn Kiếp tông bí truyền thư” của Trần Hưng Đạo, ông viết như sau:
Người giỏi cầm quân th́ không cần bày trận
Người giỏi bày trận th́ không cần đánh
Người giỏi đánh th́ không thua
Người khéo thua th́ không chết
VẠN - KIẾP TÔNG BÍ TRHUYỀN THƯ là Tác phẩm quân sự của Trần Hưng Đạo. Theo Đại Việt sử kí toàn thư, ông sưu tập binh pháp các nhà, làm thành Bát quái cửu cung đồ, đặt tên là Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Nội dung nay đă thất truyền, chỉ c̣n bài tựa của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư
ĐỀ TỰA SÁCH VẠN - KIẾP TÔNG BÍ TRHUYỀN THƯ
Phàm người khéo cầm quân th́ không cần bày trận. Khéo bày trận th́ không cần giao chiến. Khéo giao chiến th́ không thể thất bại. Khéo thất bại th́ không thương vong.
Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh; Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về vơ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy.
Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự ḿnh t́m đến; Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía Tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏ bày trận, không cần giao chiến vậy.
Cho đến Mă Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh ngh́n dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương - châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.
Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép "tỉnh điền" để đặt binh chế; Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận; Vệ công sửa lại làm trận Lục hoa; Hoàn Ôn định ra trận xà thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, tŕnh bày tuần tự, thành phép tắc rơ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nh́n vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lư Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là ǵ.
V́ thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng th́ nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phốo hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẻ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung... việc nào việc ấy thực phân minh rơ rệt.
Quốc công lại c̣n thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía Bắc làm cho Hung - nô phải sợ, phía Tây làm cho Lâm - ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: "Sau này con cháu và bề tôi pḥ tá của ta có học được bí thuật này th́ nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái đều đó th́ sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy" HUỆ CHI
Bài viết khác:
|
|